Các nghiên cứu cho thấy gì
Các nghiên cứu theo dõi tại phòng khám đối với trẻ em có chứng khó chịu về giới luôn cho thấy rằng ở phần lớn các em, chứng khó chịu về giới tự khỏi khi đến tuổi vị thành niên hoặc trưởng thành mà không cần chuyển giới y tế. Nghiên cứu lớn nhất đã theo dõi 139 bé trai được khám tại Toronto vào khoảng 7 tuổi và đánh giá lại khi các em khoảng 21 tuổi: 87,8% không còn khó chịu về giới, bao gồm 86,4% những em từng đáp ứng đầy đủ chẩn đoán thời thơ ấu, trong khi 12,2% vẫn còn (Singh et al., 2021). Tại Amsterdam, 63% trong số 127 trẻ được chuyển đến trước 12 tuổi không còn chứng khó chịu về giới khi đến giữa tuổi vị thành niên; chứng này dai dẳng ở bé gái (50%) thường hơn bé trai (29%), và sự dai dẳng gắn với nỗi khổ sở thời thơ ấu mãnh liệt hơn và với việc đã chuyển giới xã hội (Steensma et al., 2013). Hầu hết những người hết khỏi trong các nghiên cứu này lớn lên với sự hấp dẫn đồng giới hoặc song tính. Một tổng hợp gồm 11 nghiên cứu như vậy đặt tỷ lệ hết khỏi vào khoảng 60% đến 90% (Cantor, 2016). Hồ sơ bảo hiểm của Đức cũng chỉ về hướng tương tự ở nhóm trẻ lớn hơn: chỉ 36,4% những người được chẩn đoán năm 2017 vẫn còn mang chẩn đoán đó sau năm năm (Bachmann et al., 2024).
Các nghiên cứu về trẻ đã chuyển giới xã hội lại báo cáo mô hình ngược lại. Trong số 317 trẻ chuyển giới hoàn toàn ở độ tuổi 3 đến 12, 94% vẫn nhận mình là người chuyển giới khoảng năm năm sau đó và khoảng 60% đã bắt đầu dùng thuốc chặn dậy thì hoặc hormone (Olson et al., 2022). Liệu điều này phản ánh những đứa trẻ được chọn để chuyển giới hay là tác động của chính việc chuyển giới, đó là câu hỏi trung tâm chưa có lời giải. Chuyển giới xã hội được lập luận là một can thiệp có khả năng làm tăng sự dai dẳng (Zucker, 2020), trong khi một nghiên cứu trên 85 trẻ cho thấy những em sau đó chuyển giới vốn đã đồng nhất mạnh mẽ với giới tính kia từ trước (Rae et al., 2019). Một tổng quan hệ thống không tìm thấy nghiên cứu nào theo dõi trẻ về sau với một nhóm so sánh phù hợp và kết luận rằng cả lợi ích lẫn tổn hại của chuyển giới xã hội đều chưa được chứng minh (Hall et al., 2024).
Giới hạn của bằng chứng
Các nghiên cứu về sự hết khỏi dựa vào những phòng khám đơn lẻ và các tiêu chuẩn chẩn đoán cũ, rộng hơn, bao gồm cả những ca nhẹ hơn, thường được điều trị bằng liệu pháp nhằm giảm hành vi khác giới, và tại Amsterdam, 80 trẻ không quay lại được tính là những người hết khỏi. Các nghiên cứu về sự dai dẳng sử dụng những gia đình tình nguyện, phần lớn khá giả và ủng hộ, không có chẩn đoán chính thức và thời gian theo dõi ngắn. Không nhóm bằng chứng nào phản ánh số ca bệnh ngày nay, vốn chủ yếu là trẻ em gái vị thành niên, và không nghiên cứu nào có thể tách tác động của việc chuyển giới khỏi những khác biệt sẵn có giữa các đứa trẻ.