Tất cả nghiên cứu

Nghiên cứu thuần tập & sổ bộ

Các nghiên cứu theo dõi nhóm bệnh nhân theo thời gian, thường sử dụng hồ sơ phòng khám hoặc sổ đăng ký y tế quốc gia.

Các nghiên cứu cho thấy gì

Các nghiên cứu thuần tập và dữ liệu đăng ký cung cấp phần lớn những con số cứng rắn của lĩnh vực này về chẩn đoán, việc tiếp tục điều trị, tác dụng phụ và tử vong. Hồ sơ dân số cho thấy số chẩn đoán tăng vọt, khoảng 50 lần trong hồ sơ bác sĩ đa khoa ở Anh từ năm 2011 đến 2021 (Jarvis et al., 2025). Các nghiên cứu tử vong quốc gia đều nhất trí rằng tỷ lệ tử vong và tự sát đều tăng cao. Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở Thụy Điển cao gần gấp đôi so với nhóm đối chứng được ghép cặp (Clark et al., 2026), và tự sát ở Đan Mạch cao gấp 3,5 lần (Erlangsen et al., 2023). Ở nơi tiền sử tâm thần được xem xét, nó giải thích phần lớn khoảng cách. Tại Phần Lan, nguy cơ tự sát gia tăng trở nên tương thích với sự ngẫu nhiên sau khi tính đến việc chăm sóc tâm thần chuyên khoa (Ruuska et al., 2024). Tại Đài Loan, việc hiệu chỉnh theo trầm cảm làm thu hẹp mối liên hệ với tự sát nhiều nhất (Hsu et al., 2025). Các thuần tập tại phòng khám cũng báo cáo những nguy cơ thể chất, như tỷ lệ cục máu đông tĩnh mạch ở nữ chuyển giới cao gấp 4,5 đến 5,5 lần mức dự kiến (Nota et al., 2019).

Các thuần tập không đối chứng gồm thanh thiếu niên dùng thuốc chặn dậy thì không tìm thấy thay đổi đo lường được nào về chứng khó chịu về giới (de Vries et al., 2011; Carmichael et al., 2021) hay về trầm cảm trong hai năm (Olson-Kennedy et al., 2025), và gần như tất cả đều tiếp tục dùng hormone khác giới. Các con số về việc tiếp tục mâu thuẫn nhau. Tại Amsterdam, 98% thanh thiếu niên vẫn còn đơn thuốc hormone ở khoảng tuổi 20 (van der Loos et al., 2022), trong khi khoảng 30% dừng lại trong vòng bốn năm theo hồ sơ quân đội Mỹ (Roberts et al., 2022).

Giới hạn của bằng chứng

Phần lớn các nghiên cứu này thiếu một nhóm so sánh không được điều trị. Các nghiên cứu đăng ký thường chỉ ghép cặp theo tuổi và giới tính, nên chúng cho thấy nguy cơ gia tăng nhưng không cho biết vì sao. Những ước tính then chốt thường dựa trên một vài biến cố, chẳng hạn 12 vụ tự sát ở Đan Mạch. Sự hối tiếc được đo qua những chỉ báo gián tiếp hẹp trong thời gian theo dõi ngắn. Tại Thụy Điển, 21 trong số 2.467 người đã đảo ngược việc thay đổi giới tính hợp pháp (Clark et al., 2025). Tại Amsterdam, sự hối tiếc phải mất trung bình khoảng 11 năm mới xuất hiện, và 36% bệnh nhân ngừng đến phòng khám (Wiepjes et al., 2018). Nhiều thuần tập là các phòng khám tự báo cáo về dịch vụ chăm sóc của chính mình. Một thuần tập của Na Uy đã bị thu hồi vì lý do đạo đức (Nyquist et al., 2025), và một nghiên cứu phẫu thuật được trích dẫn rộng rãi đã bị đính chính sau khi phân tích lại cho thấy phẫu thuật không mang lại lợi ích nào (Bränström & Pachankis, 2020).