Các nghiên cứu cho thấy gì
Bằng chứng đáng tin cậy nhất đối với các biến chứng ngắn hạn. Một tổng quan hệ thống gồm 39 nghiên cứu về cắt bỏ tuyến vú ở người dưới 26 tuổi chỉ xếp hạng các kết cục biến chứng ở mức độ chắc chắn cao: không có ca tử vong, khoảng 20 trên 1.000 bị mất núm vú hoặc mảnh ghép, và khoảng 50 trên 1.000 có sẹo dày (Miroshnychenko et al., 2024). Trong 209 thanh thiếu niên tại Kaiser Permanente, 7,3% những người được theo dõi một năm có biến chứng phẫu thuật và 10,9% cần phẫu thuật chỉnh sửa, khi tỷ lệ phẫu thuật tăng khoảng 13 lần (Tang et al., 2022). Đối với phẫu thuật tạo hình âm đạo, 26 chuỗi ca phần lớn chất lượng thấp cho thấy hẹp là biến chứng phổ biến nhất, và chỉ một nghiên cứu đo lường chất lượng cuộc sống (Horbach et al., 2015). Nỗi khó chịu về giới, sức khỏe tâm thần, tự sát và chất lượng cuộc sống được xếp hạng là bằng chứng yếu hoặc rất yếu, dù một nghiên cứu gợi ý rằng hành vi tự gây thương tích không có ý định tự sát giảm khoảng một nửa sau khi cắt bỏ tuyến vú (Miroshnychenko et al., 2024).
Dữ liệu dài hạn về sức khỏe tâm thần thưa thớt và gây tranh cãi. Một nghiên cứu đăng ký ở Thụy Điển ban đầu liên kết mỗi năm kể từ sau phẫu thuật với khả năng cần điều trị sức khỏe tâm thần thấp hơn 8%, nhưng một đính chính năm 2020 cho thấy không có lợi thế nào so với những người được chẩn đoán nhưng không phẫu thuật (Bränström & Pachankis, 2020; Society for Evidence-Based Gender Medicine, 2020). Một thuần tập trước đó ở Thụy Điển gồm 324 người cho thấy các ca tử vong do tự sát cao gấp khoảng 19 lần so với dân số nói chung, dựa trên 10 ca tử vong, nhưng không có nhóm so sánh không được điều trị (Dhejne et al., 2011). Tỷ lệ hối tiếc được báo cáo nhìn chung là thấp: khoảng 1% gộp chung qua 27 nghiên cứu (Bustos et al., 2021), 2,2% đảo ngược hợp pháp chính thức ở Thụy Điển, thường khoảng 8 năm sau khi chuyển giới (Dhejne et al., 2014), và 0,95% được ghi nhận trong ghi chú bệnh án của thanh thiếu niên (Tang et al., 2022). Sự hối tiếc về các lựa chọn sinh sản sau khi cắt bỏ cơ quan sinh sản phổ biến hơn nhiều, ở mức 39% (Johnson et al., 2024).
Giới hạn của bằng chứng
Hầu như không có nghiên cứu nào so sánh bệnh nhân đã phẫu thuật với những người tương tự chưa phẫu thuật, nên không thể ước tính lợi ích. Các ước tính về hối tiếc dựa trên thời gian theo dõi ngắn, tỷ lệ bỏ dở cao (36% trong nghiên cứu lớn nhất được gộp bởi Bustos et al., 2021), các định nghĩa hẹp, và các khảo sát do phẫu thuật viên thực hiện với tỷ lệ phản hồi thấp (Narayan et al., 2021; Bruce et al., 2023). Phần lớn dữ liệu đến từ người lớn được điều trị theo các phác đồ cũ, chặt chẽ hơn. Việc mất khả năng cho con bú sau khi cắt bỏ tuyến vú chỉ được ghi nhận trong một báo cáo ca duy nhất (Gribble et al., 2023). Nhiều nghiên cứu đến từ các nhóm thực hiện chính những ca phẫu thuật này.