Các nghiên cứu cho thấy gì
Bộ sưu tập nhỏ, không đồng nhất này trải rộng ba câu hỏi: giới tính được định nghĩa như thế nào, liệu bản dạng chuyển giới có cơ sở đo lường được trong cấu trúc não hay không, và những khác biệt giới tính liên quan thế nào đến sự công bằng trong thể thao. Về định nghĩa, một tiểu luận lập luận rằng ở những loài có hai loại giao tử thì có đúng hai giới tính, nam và nữ, được định nghĩa bởi các cơ thể được tổ chức để sản sinh tinh trùng hoặc trứng, và rằng các rối loạn phát triển giới tính (DSD) không tạo thành một giới tính thứ ba (Wright, 2025). Bài này trình bày một lập luận chứ không phải dữ liệu mới, và một bài phê bình được công bố cho rằng định nghĩa đó đã tiền giả định kết luận của chính nó.
Bằng chứng về "giới tính của não" còn mỏng. Phát hiện được biết đến nhiều nhất, rằng một vùng não nhỏ (BSTc) có kích thước điển hình của nữ ở sáu nữ chuyển giới, đến từ mô khám nghiệm tử thi của những người đã dùng estrogen và thuốc kháng androgen trong nhiều năm, gần như tất cả sau khi bị thiến (Zhou et al., 1995). Một nghiên cứu tiếp theo đếm tế bào thần kinh trong chính sáu bộ não đó chứ không phải các ca mới (Kruijver et al., 2000), và chính nhóm đó sau này báo cáo rằng khác biệt giới tính ở vùng này chỉ xuất hiện khi trưởng thành. Không có nhóm độc lập nào tái lặp được phát hiện này. Một phân tích lại năm 2026 đối với các con số được công bố từ một nghiên cứu hình ảnh năm 2022 trên 24 nữ chuyển giới chưa điều trị lập luận rằng sự khác biệt được báo cáo của họ so với nam giới có thể không vượt qua được các hiệu chỉnh thống kê tiêu chuẩn, dù sự khác biệt so với nữ giới thì có (Wright et al., 2026). Riêng rẽ, các nghiên cứu phân loại ban đầu từ một phòng khám ở Toronto báo cáo sự kích thích tình dục đối với việc mặc đồ khác giới ở 66–88% bệnh nhân nam chuyển thành nữ không bị hấp dẫn độc quyền bởi nam giới, so với 15% ở những người bị hấp dẫn bởi nam giới (Blanchard, 1985), và đưa ra thuật ngữ autogynephilia (Blanchard, 1989); những ý tưởng này vẫn bị tranh cãi mạnh mẽ.
Thể thao, và những giới hạn của bằng chứng
Về thể thao, mục duy nhất là một tuyên bố lập trường y học thể thao năm 2022 lập luận rằng testosterone ở mức của nam giới là yếu tố chính dẫn đến các khác biệt giới tính về cơ bắp và thành tích, và ủng hộ việc đặt giới hạn testosterone thay vì khuôn khổ không giả định có lợi thế của IOC (Pigozzi et al., 2022). Bài này không tổng quan dữ liệu thành tích trực tiếp nào về các vận động viên chuyển giới sau khi ức chế testosterone. Trên toàn hạng mục, bằng chứng bao gồm các bài bình luận, những mẫu khám nghiệm tử thi rất nhỏ bị nhiễu bởi điều trị hormone, và các nghiên cứu tự báo cáo từ một phòng khám không có nhóm so sánh. Một số tác giả chủ chốt có các mối quan hệ nghề nghiệp hoặc vận động ở một phía của cuộc tranh luận, và hạng mục hiện tại không chứa nghiên cứu thực nghiệm nào về thành tích thể thao.